RAU KỶ TRỊ BỆNH

Sách “Bản Thảo Bị Yếu” chép : “Rau kỷ vị ngọt, tính bình (“Bản Thảo Cương Mục” cho rằng có thể lạnh) không độc, chủ nhuận phổi, mát gan, mạnh thận, ích khí, sinh tinh, trợ dương, bổ hư hao, khỏe gân cốt, khử phong độc, làm sáng mắt, lợi ruột non, ruột già ; trị khô khát”

Ngày đăng: 07-12-2014

10,912 lượt xem

RAU KỶ

Rau kỷ nhân dân ta còn gọi là rau khỉ: tên chữ hán là : cẩu kỷ, cẩu kích, xích bảo, linh bàng… Quả và hạt rau này tên chữ Hán là : cẩu kỷ tử, cẩu kích tử, địa tiên tử, địa cốt tử, thanh tinh tử, khước lão tử, minh mãn tử, điềm thái tử…Sách “Bản Thảo Cương Mục” còn gọi rau này là “Thiên tinh”, “Địa tiết” và chép : “Rau này chủ tráng dương, thêm tủy và làm tỏ mắt, Kinh thi có câu: Ngôn thái kỳ kỷ (nói hái rau kỷ) tức là thứ rau này. Lá rau kỷ non dùng nấu canh ăn. Ngạn ngữ nói : Ly gia thiên lý, vật thực la ma, cẩu kỷ (Rời nhà ngàn dặm chớ ăn rau mơ, rau kỷ), chính là đề cập tới tính tráng dương cực mạnh của nó. Rau kỷ mọc trên đất cát ở phương Bắc thành loại mộc (cây to), mọc ở đất chắc (đất thịt) ở phương Nam thành loại thảo (cây thân cỏ)…”. Sách Bản Thảo Cứu Hoang” chép : “Người ở nơi thôn dã gọi rua kỷ là điềm thái (rau điềm) thường hái luộc hoặc nấu canh ăn. Mùa thu hái quả tức là cẩu kỷ tử, mùa đông cắt lấy rễ, tức là địa cốt bì.

Sách “Bản Thảo Bị Yếu” chép : “Rau kỷ vị ngọt, tính bình (“Bản Thảo Cương Mục” cho rằng có thể lạnh) không độc, chủ nhuận phổi, mát gan, mạnh thận, ích khí, sinh tinh, trợ dương, bổ hư hao, khỏe gân cốt, khử phong độc, làm sáng mắt, lợi ruột non, ruột già ; trị khô khát”.

Theo ghi nhận của Giáo sư tiến sĩ Đỗ Tất Lợi trong sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, kỷ tử là một vị thuốc bổ toàn thân, dùng trong các bệnh : Đái đường (phối hợp với các vị thuốc khác), ho lao, viêm phổi, mệt nhọc, gày yếu, bổ tinh khí, giữ cho người trẻ lâu. Quả kỷ tử hái vào mùa hạ và mùa thu phải hái vào buổi sáng sớm, hoặc buổi chiều mát, nếu hái vào buổi trưa nóng quá sẽ giảm hẳn phẩm chất.

Theo sách “Trồng hái và dùng cây thuốc – tập 1” của lương y Lê Trần Đức, địa cốt bì vị ngọt, tính lạnh, vào phế, can, thận, làm mát máu, chữa sốt âm, hư lao, sốt cơn, mồ hôi trộm hay tự đổ mồ hôi, dùng 12 -20 gr phối hợp với các vị khác.

RAU KỶ TRỊ BỆNH

CÔNG DỤNG:

1/- Chữa chứng “Khô khát, người háo”:

Dùng 100 gr rau kỷ tươi, 100 gr thịt bò (Hoàng ngưu nhục) rau rửa sạch, thịt thái mỏng hoặc băm nhỏ, nấu canh nêm nếm vừa miệng. Ăn liền (vào bữa cơm trưa) vài ba ngày thì khỏi.

(Thực Liệu Kỳ Phương)

2/- Chữa chứng “Gân cốt suy yếu”:

Dùng 10 gr lá rua kỷ tươi, 100 gr thịt trâu (Thủy ngưu nhục) rau rửa sạch, thịt trâu băm nhỏ, nêm nếm vừa miệng, nấu canh ăn vào bữa trưa. Ăn liền trong vài ba hôm tất có kiến hiệu.

(Thực Liệu Kỳ Phương)

3/- Chữa chứng “Phổi Nóng”:

Dùng 100 gr lá rau kỷ tươi, 100 gr phổi heo (Trư phế), rau rửa sạch, phổi thái thành miếng mỏng, nấy canh, nêm nếm vừa miệng, ăn vào bữa trưa. Ăn liền trong mấy hôm sẽ khiến nhuận phổi, khỏi bệnh.

(Thực Liệu Kỳ Phương)

4/- Chữa chứng “Đau lưng, Thận suy”:

Dùng 100 gr lá rau kỷ tươi, 100 gr thịt dê (dương nhục), rau rửa sạch, thịt dê thái mỏng, xào hoặc nấu canh, nêm nếm vừa miệng, ăn vào bữa trưa. Ăn liền trong vài ngày sẽ kiến hiệu. Chú ý : Thịt dê rất nóng, nếu người hỏa vượng thì giảm bớt 1/3 lượng thịt dê.

(Thực Liệu Kỳ Phương)

5/- Chữa chứng “Ho lao nặng”:

Dùng 100 gr lá rau kỷ, 100 gr cá lạc (Mạn lệ ngư), nấu canh, nêm nếm vừa miệng, ăn vào bữa trưa. Ăn liền trong 1,2 tuần. Sau 1,2 tuần, cách 1 ngày ăn một lần cho tới khi khỏi.

(Thực Liệu Kỳ Phương)

6/- Chữa chứng “Trường Bế”:

Do nhiệt độc tích tụ, ruột bị ứ nghẽn tiêu, tiểu không thông. Dùng 1 nắm lá rau kỷ, rửa sạch, vảy ráo nước, ăn sống kèm với cá Mòi kho, hoặc nấu canh với cá mòi, ăn liền trong mấy ngày sẽ kiến hiệu.

(Thực Liệu Kỳ Phương)

7/- Chữa chứng “Sốt ho”:

Dùng lá rau kỷ (rau củ khởi) nấu canh với thịt cho ăn.

(Theo G.S.T.S Đỗ Tất Lợi)

8/- Chữa chứng “ Suy nhược cơ thể”:

Kỷ tử (khởi tử) 600 gr, rượu (350 – 400) 2 lít. Giã nhỏ Kỷ tử. Cho vào rượu ngâm trong 2 tuần lễ trở lên. Lọc lấy rượu uống dần. Ngày uống 1-2 cốc con làm thuốc bổ dưỡng cơ thể.

(Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam)

9/- Chữa chứng “Thổ Huyết”:

Sắc 12 gr Địa cốt bì với 200ml nước mà uống trong ngày.

(Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam)

10/- Chữa chứng “Tiểu tiện ra máu”:

Địa cốt bì tươi, rửa sạch giã lấy nước uống. Mỗi lần dùng 25 -30 gr Địa cốt bì tươi. Nếu không có tươi, dùng khô sắc cũng được.

(Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam)

11/- Chữa chứng “Âm hộ lở loét”:

Sắc địa cốt bì, lấy nước đó ngâm, rửa thường xuyên.

(Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam)

12/- Chữa chứng “Thận hư, tinh ít, đau lưng”:

Kỷ tử, hoàng tinh, thục địa phân lượng bằng nhau, sấy khô, tán thành bột, viên với mật. Mỗi ngày uống 12 -20 gr.

(Lương Y Lê Trần Đức)

13/- Chữa chứng “Đái Tháo Gày Róc, Sốt Âm Ho Khan”:

Địa cốt bì, thiên hoa phấn, quả dâu, huyền sâm mỗi vị 12 gr, sắc uống.

(Trồng hái và dùng cây thuốc – Tập I)

14/- Chữa chứng “Mồ hôi trộm hay tự đổ mồ hôi”:

Dùng 20 – 25 gr địa cốt bì xé nhỏ sắc 2 bát còn 1 bát nước, một miếng gan heo bằng nửa bàn tay người lớn, thái mỏng sao trong chảo đất cho khô giòn, tán mịn, hòa vào bát nước sắc địa cốt bì, chia làm 3 lần uống trong ngày, mỗi lần cách nhau khoảng 3 giờ. Rất kiến hiệu.

(Ứng Nghiệm Lương Phương)

Chú Ý: Phàm có ngoại tà thực nhiệt, tì hư có nước và trường hoạt kị dùng vị cẩu kỷ tử.

Bình luận (0)

Gửi bình luận của bạn

Captcha

Lượt truy cập

Tổng truy cập 213,942

Đang online4

CÔNG DỤNG CỦA BỘ LƯU ĐIỆN - UPS ĐỐI VỚI CAMERA VÀ WIFI TRONG GIA ĐÌNH

BỘ LƯU ĐIỆN THƯỜNG SỬ DỤNG GIA ĐÌNH

IDT PHÂN PHỐI ẮC QUY CSB CÁC LOẠI

PHÂN PHỐI ẮC QUY CSB CÁC LOẠI

PHÂN PHỐI CSB 12V17Ah

LẮP ĐIỆN MẶT TRỜI IDT

FanPage